Ngải cứu (Artemisia vulgaris) là cây thảo sống dai, cao 0,4–1m, có vị đắng, tính ấm. Dược liệu này nổi tiếng với công dụng ôn kinh, tán hàn, cầm máu và giảm đau nhức xương khớp. Cây mọc hoang và được trồng khắp nơi ở Việt Nam để làm thuốc và chế biến món ăn.
Tên Gọi và Phân Loại• Tên khoa học: Artemisia vulgaris L.
• Họ thực vật: Họ Cúc (Asteraceae)
• Tên tiếng Anh: Mugwort, Wormwood
• Tên Đông y (Hán-Việt): Ngải diệp (lá ngải)
• Tên tiếng Trung: Ải diệp (艾葉), Ải hao (艾蒿)
• Tên dân gian / Tên khác: Cây thuốc cứu, nhả ngải (tiếng Tày), quả sú (H'mông), bắc ngải
• Giải thích tên gọi: Chữ "ngải" có gốc từ điển tích Trung Hoa, còn "cứu" nghĩa là cứu chữa bệnh. Trong dân gian, cây được xem là vị thuốc cứu nhân độ thế, cứu, giữ thai và trừ hàn.
Mô Tả Hình Thái và Phân Bố• Hình thái: Thân thảo đa niên, có rãnh dọc và lông mịn. Lá mọc so le, phiến xẻ lông chim, mặt trên xanh sẫm nhẵn, mặt dưới phủ nhiều lông trắng tro. Hoa nhỏ màu lục nhạt mọc thành chùy kép. Vò nát có mùi thơm hắc đặc trưng.
• Phân bố: Phân bố rộng ở các vùng ôn đới và nhiệt đới châu Á, châu Âu, Bắc Mỹ. Tại Việt Nam, cây mọc hoang và được trồng ở khắp các tỉnh thành.
• Nguồn gốc trồng: Trồng dễ dàng bằng cách giâm cành hoặc tách mầm ở vườn gia đình, đất ẩm mát.
Thành Phần Hóa Học• Chứa 0,2–0,34% tinh dầu với các thành phần chính như 1,8-cineol, camphor, terpinen-4-ol, và pinen.
• Chứa các hợp chất flavonoid, tanin, coumarin và các acid hữu cơ có hoạt tính sinh học.
Công Dụng và Cách Dùng
• Theo Y học cổ truyền:o Tính vị: Vị đắng, cay, tính ấm; quy kinh Can, Tỳ, Thận.
o Tác dụng: Ôn kinh, tán hàn, cầm máu, điều hòa kinh nguyệt, an thai, trừ thấp giảm đau.
o Cách dùng: Sắc uống nước tươi/khô, giã đắp cầm máu, hoặc làm điếu ngải để hơ cứu huyệt đạo.
• Theo Y học hiện đại:o Tác dụng: Kháng viêm, giảm đau cơ xương khớp, hỗ trợ tuần hoàn máu và chống oxy hóa.
o Cách dùng: Dùng chiết xuất dạng cao bôi ngoài da, nấu nước ngâm tắm hoặc chế biến món ăn bài bổ (như trứng gà, canh thịt, gà hầm ngải cứu).
Tác Dụng Phụ và Lưu Ý• Không dùng liên tục liều cao vì tinh dầu ngải cứu có thể gây độc cho gan và thận nếu lạm dụng.
• Phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu không nên ăn hoặc uống nước ngải cứu để tránh nguy cơ động thai.
• Người bị viêm gan hoặc mắc bệnh thận nặng cần tránh dùng.
Thu Hái và Chế Biến• Thu Hái: Hái phần trên mặt đất (lá và cành non) vào lúc cây sắp ra hoa hoặc đang ra hoa (thường vào tháng 5–10 hằng năm).
• Chế Biến: Dùng tươi ngay hoặc rửa sạch, phơi âm can (phơi nơi râm mát, thoáng gió) hoặc sấy nhẹ đến khô để làm ngải cứu khô / nhồi điếu ngải.